Đăng bởi Babuki JSC vào 05/07/2021

Business Model Canvas có thể được sử dụng như một công cụ để phân tích, hiểu các mô hình kinh doanh của các công ty và cách các công ty định vị trên thị trường.

Business Model Canvas chỉ là một trong những “framework” mà bạn có thể sử dụng để xây dựng, thiết kế hoặc đánh giá mô hình kinh doanh.

Ngoài ra, business model canvas sẽ ghi lại hiện trạng (vị trí) hoặc mục tiêu (nơi mà công ty sẽ muốn ở trong tương lai) của một công ty. Do đó, business model canvas trong bài viết này sẽ đề cập đến hiện trạng của Google vào năm 2019.

Mặc dù một mô hình kinh doanh tạo ra một lợi thế cạnh tranh lâu dài, nhưng việc có thể đổi mới mô hình kinh doanh theo thời gian hay không là rất quan trọng. Nếu bản thân Google không muốn bị gián đoạn, nó sẽ cần phải tiến hóa mô hình kinh doanh của mình.

Các đối tác chính của Google

Mỗi ngày có hàng tỷ người “online” và họ “google mọi thứ lên”. Đối với nhiều người trong số đó, Google thực sự là web. Tuy nhiên, trong quá khứ, vào cuối những năm 1990 khi web được gọi là AOL.

Thật vậy, có lẽ hơn một nửa lưu lượng truy cập trên internet đã đi qua cổng (portal) này. Khi Google ra mắt, mặc dù đã tìm ra một sản phẩm và công cụ tìm kiếm tuyệt vời, nhưng Google vẫn chưa có mô hình kinh doanh.

Ví dụ: bằng cách xem xét một số suy nghĩ của những người sáng lập Google là Page và Brin vào thời điểm đó, có vẻ họ nghĩ rằng quảng cáo không phù hợp lắm với một công cụ tìm kiếm:

Business Model Canvas của Google - V01

Trong bài báo, họ đã đề cập “cảm xúc lẫn lộn” của họ về mô hình kinh doanh quảng cáo. Khi họ tin rằng bất kỳ công cụ tìm kiếm nào dựa trên quảng cáo đều đi ngược lại sứ mệnh chính của nó.

Tuy nhiên, theo thời gian, Google đã tìm ra cách để hiển thị quảng cáo theo cách không ảnh hưởng đến trải nghiệm người dùng.

Lưu lượng truy cập đi qua các các trang tìm kiếm của Google là một yếu tố quan trọng cho sự thành công lâu dài của công ty.

Đó cũng là lý do tại sao Google ban đầu thực hiện thỏa thuận với AOL để được giới thiệu là công cụ tìm kiếm chính trên cổng thông tin (portal) của mình, điều này giúp nó có khả năng hiển thị lớn.

Bên cạnh đó, AOL cũng đã được đề xuất một ưu đãi tốt và nó cũng coi tìm kiếm như một tính năng phụ, không thể nói không với Google. Do đó, mỗi ngày, AOL cho phép hàng tỷ truy vấn đi qua Google.

Google đã phải xây dựng một mạng lưới phân phối rộng lớn mà mỗi ngày đều đảm bảo cho nó lưu lượng truy cập này. Đây không phải là một mạng lưới đơn giản, mà là một cơ sở hạ tầng khổng lồ giá trị hàng tỷ đô la mỗi năm.

Cơ sở hạ tầng này trông như thế nào? Có một số yếu tố:

Các thỏa thuận đối tác

Một ví dụ là thỏa thuận trị giá hàng tỷ đô la giữa Google và Apple để Google trở thành công cụ tìm kiếm mặc định trên Safari.

Khi web chuyển từ máy tính để bàn sang thiết bị di động, Google đã phát triển chiến lược phân phối của mình (ví dụ: thông qua Google Chrome).

Tuy nhiên, một loạt các thiết bị (iPhone hoặc iPad) được vận hành bởi hệ điều hành Apple IOS và trình duyệt Internet mặc định của Apple (Safari). Để được làm nổi bật trên các thiết bị của Apple, Google phải trả một số tiền đáng kể.

Liên minh thiết bị cầm tay mở

Như đã đề cập, người dùng di động đã tăng lên ồ ạt trong thập kỷ qua. Điều này ngụ ý rằng bất cứ ai nắm giữ mức tiêu thụ nội dung di động đều có thể xây dựng một mô hình kinh doanh bền vững trong nhiều năm tới.

Với 84 công ty công nghệ và di động khác nhau, Google đã tạo nên Liên minh thiết bị cầm tay mở. Trên thực tế, vào năm 2005, Google đã mua lại Android (trở thành hệ điều hành thịnh hành cho thiết bị di động).

Chỉ sau vài tháng kể từ khi Steve Jobs ra mắt iPhone, Google đã công bố Liên minh thiết bị cầm tay mở của mình. Mục đích là xây dựng “nền tảng thực sự mở và toàn diện đầu tiên dành cho thiết bị di động.”

Mô hình kinh doanh đằng sau Liên minh thiết bị cầm tay mở là một mô hình đơn giản. Google cung cấp miễn phí hệ điều hành cho thiết bị di động, Android và đổi lại, nhiều ứng dụng như Google Play và Google Chrome được cài đặt sẵn.

Mạng lưới AdSense

Không chỉ lưu lượng truy cập, yếu tố quan trọng cho sự thành công của Google, mạng lưới AdSense có thể cung cấp nội dung có liên quan và chất lượng cao so với bất kỳ cổng thông tin hoặc công cụ tìm kiếm nào khác.

Một mặt, Google đã tìm ra cách cung cấp các quảng cáo có liên quan bằng cách giới thiệu AdWords với hệ thống đánh giá theo điểm xếp hạng của nó. Mặt khác, công ty cần phải cân bằng điều đó với nội dung “organic” chất lượng cao từ web.

Mặc dù Google đã cung cấp điều đó bằng cách lập chỉ mục toàn bộ trang web hiển thị, nhưng nó đã cải thiện khá nhiều khi cung cấp cho bất kỳ nhà xuất bản nào khả năng kiếm tiền từ nội dung thông qua mạng AdSense.

Bao gồm hàng triệu trang web trên khắp thế giới; những trang web đó cho phép Google truy cập vào các trang web để đặt các “banner” từ các doanh nghiệp muốn quảng cáo dịch vụ của mình. Google chia sẻ doanh thu quảng cáo được tạo ra từ các “banner” đó với các nhà xuất bản này.

Quản trị viên web (Webmasters)

Một lợi ích lớn của Google là khả năng gửi lưu lượng truy cập đủ điều kiện đến bất kỳ trang web nào, dựa trên các tìm kiếm mà người dùng thực hiện. Ví dụ: nếu tôi tìm kiếm “bảo hiểm xe hơi” trên Google, tôi sẽ tìm thấy một vài quảng cáo dựa trên văn bản trên đầu của danh sách kết quả tìm kiếm.

Đồng thời, tôi cũng sẽ tìm thấy các kết quả “organic” khác, không phải trả một xu nào để được giới thiệu ở đó. Điều này có thể thực hiện được vì Google có một chỉ mục lớn về web và nếu nội dung đó có liên quan, nội dung đó sẽ được giới thiệu trên trang đầu tiên của Google.

Việc ở trên trang đầu tiên của Google có thể mang lại doanh thu đáng kể cho những trang web này. Đặc biệt, chủ sở hữu web có thể đăng ký web của mình thông qua Google Search Console (một nền tảng để giám sát việc lập chỉ mục của một trang web) để hiểu cách Google xem trang web.

Điều này cho phép các nhà xuất bản – không phụ thuộc vào Google AdSense – “kiểm soát” thứ hạng của mình trên công cụ tìm kiếm không phải trả tiền của Google. Hàng triệu quản trị viên web mỗi ngày giúp Google lập chỉ mục nội dung và giúp công cụ tìm kiếm giữ chỉ mục đủ điều kiện của web dễ dàng hơn!

Các hoạt động chính của Google

Sứ mệnh của Google là “tổ chức thông tin của thế giới và làm cho thông tin hữu ích và có thể truy cập được trên toàn cầu”.

Tầm nhìn táo bạo này đòi hỏi Google phải liên tục đổi mới trong ngành công nghiệp tìm kiếm, đồng thời hướng tới những cách thức mới mà web đang phát triển. Từ tìm kiếm bằng giọng nói, tìm kiếm bằng hình ảnh, học máy, v.v.

Trước hết, Google cần đầu tư vào một cơ sở hạ tầng mạnh mẽ và an toàn để giúp công ty có thể xử lý hàng tỷ truy vấn mỗi ngày. Điều này ngụ ý một số hoạt động chính:

  • Ở cấp độ cơ bản, Google phải tiếp tục đổi mới các thuật toán tìm kiếm của mình. Riêng điều này đã cần đầu tư đáng kể.
  • Khi tìm kiếm bằng giọng nói ngày càng phát triển, điều quan trọng là Google phải liên tục đổi mới bằng cách cung cấp các sản phẩm mới. Ví dụ: Google đã ra mắt các thiết bị thoại mới của mình, chẳng hạn như Google Home, thiết bị này cạnh tranh với những “gã” khổng lồ công nghệ khác, như Amazon’s Alexa và Cortana.
  • Google vẫn tạo ra phần lớn doanh thu từ quảng cáo. Mô hình kinh doanh dựa trên một nguồn doanh thu duy nhất có thể về lâu dài sẽ không bền vững. Đó cũng là lý do tại sao Google đang đầu tư nguồn lực để đặt cược vào các lĩnh vực khác có thể dẫn đến sự đổi mới tiếp theo.

Business Model Canvas của Google - V02

Đề xuất giá trị của Google

Đối với một “gã” khổng lồ công nghệ như Google, công ty có mô hình kinh doanh phức tạp, dựa trên việc tạo doanh thu ẩn, không chỉ có một đề xuất giá trị.

Thay vào đó, một số đề xuất giá trị sẽ phục vụ mục đích duy trì các mối quan hệ đối tác quan trọng, cho phép Google mở rộng quy mô và cho phép Google duy trì sự thống trị thị trường tìm kiếm ngày nay.

Đề xuất giá trị cho hàng tỷ người dùng

Công cụ tìm kiếm miễn phí cho hàng tỷ người dùng trên khắp thế giới. Đây là cách Google phát triển nhanh chóng. Một dịch vụ tuyệt vời, đáng tin cậy và miễn phí cho phép người dùng ở mọi nơi trên thế giới tìm thấy thông tin họ cần một cách nhanh chóng.

Ứng dụng công cụ và năng suất

Bên cạnh công cụ tìm kiếm miễn phí, Google cũng cung cấp một bộ công cụ và ứng dụng miễn phí (phải kể đến một số ứng dụng: Gmail, Google Analytics, Blogger, Google Sách, Google Chrome và nhiều ứng dụng khác). Những công cụ miễn phí này là một trong những công cụ được sử dụng nhiều nhất trong thế giới kinh doanh.

Lĩnh vực kinh doanh quảng cáo của Google

Cốt lõi của mô hình kinh doanh Google là quảng cáo, tập trung vào các quảng cáo dựa trên văn bản được nhắm mục tiêu cho các doanh nghiệp được cung cấp qua mạng AdSense.

Trước khi Google tồn tại, không có cách nào để các nhà tiếp thị biết chi tiết tất cả các chỉ số chuyển đổi của quảng cáo của mình. Trong khi Overture là người đầu tiên cung cấp quảng cáo CPC, Google đã nâng cấp, mở rộng quy mô nó ở các cấp độ lớn.

Google Adsense

Trước khi Google phá vỡ thế giới quảng cáo và tiếp quản thị trường quảng cáo kỹ thuật số, một số nhà xuất bản đã thành danh có thể kiếm tiền thông qua quảng cáo.

Với mạng lưới AdSense của mình, Google cũng cho phép các nhà xuất bản nhỏ kiếm tiền từ nội dung của mình.

Theo một cách nào đó, đó là một sự dân chủ hóa thị trường quảng cáo kỹ thuật số, nơi bất kỳ ai có nội dung thu hút sự chú ý và quan tâm nhất đều có thể kiếm tiền từ nội dung đó, độc lập với thương hiệu của nó.

Google AdSense vẫn là một yếu tố thiết yếu trong đề xuất giá trị của Google.

Mối quan hệ khách hàng của Google

“Cash cow” (lĩnh vực kinh doanh mang lại doanh thu / lợi nhuận chính) cho Google là mạng lưới AdWords, được tạo ra bởi một số lượng lớn các doanh nghiệp đang tìm cách “tài trợ” (sponsor) cho các sản phẩm và dịch vụ của họ. Điều đó bao hàm 2 điều.

  • Trước tiên, Google cần tiếp tục cung cấp các quảng cáo được nhắm mục tiêu cho phép các doanh nghiệp đó tạo ra khách hàng tiềm năng.
  • Thứ hai, Google có giá trị tương đương với lưu lượng truy cập đủ điều kiện mà nó có thể tạo ra.

Điều này có nghĩa Google cần tiếp tục tập trung vào việc đảm bảo rằng người dùng quay lại các trang kết quả tìm kiếm của Google.

Phân khúc khách hàng của Google

Về mặt tạo ra giá trị, với mô hình kinh doanh khổng lồ của mình, Google có một số “khách hàng” không chỉ là các doanh nghiệp trả tiền cho dịch vụ của Google mà còn là những người hoặc tổ chức đóng góp vào thành công tài chính của Google.

Người dùng internet miễn phí

Người dùng Internet trên toàn cầu. Mặc dù Google là một dịch vụ miễn phí, nhưng người dùng của Google vẫn là một trong những “khách hàng” quan trọng nhất. Nếu Google để mất những “khách hàng” này, mô hình kinh doanh sẽ không vận hành được.

“Agencies”, nhà tiếp thị và doanh nghiệp

Những người đang mang lại nhiều tiền cho Google là các “agencies”, nhà tiếp thị và doanh nghiệp thuộc mạng lưới Ad Network. Họ được thúc đẩy bởi thực tế rằng Google là một nguồn đáng kinh ngạc về lưu lượng truy cập được nhắm mục tiêu và đủ điều kiện.

Nhà xuất bản

Các thành viên mạng lưới AdSense cho phép Google cung cấp các quảng cáo được nhắm mục tiêu trên các thuộc tính web của mình.

Điều quan trọng là Google tiếp tục cung cấp cho các nhà xuất bản đó đủ động lực để tiếp tục kiếm tiền từ nội dung của mình thông qua nền tảng AdSense.

Nguồn lực chính của Google

Mặc dù Google là một doanh nghiệp kỹ thuật số, điều đó có thể khiến bạn nghĩ rằng công ty không có tài sản hữu hình. Điều này không phải là sự thật.

  • Điều cơ bản nhất của bất kỳ trang web nào có lượng truy cập lớn cần phải có cơ sở hạ tầng máy chủ đồ sộ. Quay trở lại cuối những năm 1990 khi Google vẫn còn ở giai đoạn đầu tại Stanford, nó đã làm kết nối Internet của mình sập nhiều lần bởi một số lần cúp điện. Điều đó làm cho những người sáng lập của Google hiểu rằng họ cần phải xây dựng một cơ sở hạ tầng vững chắc cho công cụ tìm kiếm của mình. Ngày nay Google có một cơ sở hạ tầng CNTT khổng lồ bao gồm nhiều trung tâm dữ liệu khác nhau trên thế giới.
  • Một yếu tố khác để cho phép Google luôn dẫn đầu “cuộc chơi” của mình là tiếp tục đổi mới trong ngành công nghiệp tìm kiếm. Duy trì, cập nhật và đổi mới các thuật toán khá là tốn kém. Trong năm 2017, Google đã chi hơn 16,6 tỷ đô la cho R&D, chiếm 15% tổng doanh thu của công ty.

Kênh phân phối của Google

Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của Google là chiến lược phân phối, kể từ những năm đầu hoạt động. Đó cũng là lý do tại sao Google dựa vào:

  • Nhóm bán hàng toàn cầu để tiếp tục phát triển hoạt động của Google
  • Các giao dịch và quan hệ đối tác giúp Google xuất hiện trên hàng tỷ thiết bị trên thế giới

Cấu trúc chi phí của Google

Với doanh thu hơn 110 tỷ đô la trong năm 2017, Google có lợi nhuận ròng 12,6 tỷ đô la. Trong đó: chi phí có được lưu lượng truy cập là một số liệu quan trọng để đánh giá khả năng tạo ra giá trị của Google trong những năm qua.

Business Model Canvas của Google - V02

TAC là viết tắt của “Traffic acquisition costs” (chi phí có được lưu lượng truy cập) và đó là tỷ lệ mà Google phải đầu tư nguồn lực trên phần trăm doanh thu của mình để có được lưu lượng truy cập. Vào năm 2017, Google đã ghi nhận tỷ lệ TAC trên các thành viên trong mạng lưới là 71,9% trong khi tỷ lệ thuế bất động sản của Google là 11,6%.

  • Chi phí R&D chiếm 15% tổng doanh thu của công ty, tương đương 16,6 tỷ đô la
  • Bán hàng và tiếp thị chiếm 11,6% tổng doanh thu hoặc gần 13 tỷ đô la
  • Chi phí trung tâm dữ liệu

Các luồng doanh thu của Google

Mô hình kinh doanh của Google có thể được chia thành 3 dòng doanh thu chính:

  • Mạng quảng cáo của Google
  • Doanh thu khác của Google (bao gồm Ứng dụng, mua hàng trong ứng dụng và nội dung kỹ thuật số trong Cửa hàng Google Play; Phần cứng và dịch vụ Google Cloud)
  • Doanh thu từ các lĩnh vực đầu tư khác

Nguồn: Fourweekmba 

Babuki lược dịch và hiệu đính

Đăng ký nhận bản tin


    Các bài bài viết liên quan

    Xem thêm
    Tin tức Chiến lược kinh doanh Doanh nhân Khởi nghiệp

    “Bà trùm trứng” Ba Huân – người phụ nữ chưa học hết lớp 5 lay động tập đoàn Hà Lan để mang về dây chuyền sản xuất gây tiếng vang khắp Đông Nam Á

    Có hẹn với bà Phạm Thị Huân – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ba Huân vào thời điểm…

    27/10/2021 • Babuki JSC
    M&A / Gọi vốn đầu tư Case study Tin tức

    NUỐT CÁ LỚN: thương vụ M&A 67 tỷ đô, lớn nhất trong lịch sử công nghệ giữa Dell và EMC

    “Canh bạc” M&A kinh điển của Dell khiến giới công nghệ toàn cầu ngả mũ: Đi vay 48,6 tỷ USD để “nuốt cá lớn” EMC, cứu công ty khỏi cuộc thoái trào máy PC

    06/10/2021 • Babuki JSC
    Tin tức Chiến lược kinh doanh Khởi nghiệp

    SCALE và nguyên lý Cái rổ thủng: Đừng vội khi Startup chưa đủ “chín”!

    Theo như bài báo cáo thông kê của Startup Genome, báo cáo khảo sát hơn 3200 startup toàn cầu, cho thấy hơn 70% startup đó thất bại là do Premature Scaling-hay còn được gọi là Scale khi “chưa đủ chín”. Bài viết này chia sẻ góc nhìn là bạn Hoàng Thị Kim Dung, Ventures Capitalist at Genesia Ventures Japan, một VC đầu tư vào startup giai đoạn Early, về Scale và những rủi ro Scale khi startup chưa “chín” với nguyên lý Cái rổ thủng, những việc startup cần chuẩn bị để sẵn sàng cho Scale.

    26/09/2021 • Babuki JSC
    Tin tức Chiến lược kinh doanh Tái cấu trúc / Chuyển đổi doanh nghiệp

    Bí mật cuộc tái cơ cấu lịch sử tại TPBank

    Khi ông Đỗ Minh Phú (Nhà sáng lập tập đoàn DOJI) và em trai (Đỗ Anh Tú) bước vào TPBank, không có nhiều người tin…

    20/09/2021 • Babuki JSC
    Tin tức Chiến lược kinh doanh

    Sau 10 năm thay đổi ngoạn mục, Digiworld hướng đến tầm nhìn doanh nghiệp tỉ USD

    Sau 10 năm thay đổi ngoạn mục, Công ty cổ phần Thế giới số (Digiworld) hướng đến tầm nhìn doanh nghiệp tỉ USD. Chia sẻ…

    13/09/2021 • Babuki JSC
    Tin tức Khởi nghiệp M&A / Gọi vốn đầu tư Mô hình kinh doanh

    Hành trình 3 năm “chớp mắt thành kỳ lân” của Sky Mavis với game Axie Infinity

    Sau khi nhận 152 triệu USD ở vòng gọi vốn Series B, định giá của Sky Mavis với game Axie Infinity được đồn đoán lên tới 3 tỷ USD. Vậy đâu là những cột mốc, để biến 1 dự án nhỏ ‘làm chơi’ cho vui – phục vụ sở thích cá nhân của Founder kiêm CEO Nguyễn Thành Trung năm 2018, thành một startup đáng giá vài tỷ đô năm 2021?

    06/09/2021 • Babuki JSC
    Tin tức Chiến lược kinh doanh

    So găng lợi nhuận của Nội thất Hoà Phát, Xuân Hoà để lý giải vì sao ông Trần Đình Long buông tay “một phần của lịch sử”

    Thập kỷ trước, nhắc đến Hoà Phát, người tiêu dùng Việt sẽ nghĩ ngay đến bàn ghế văn phòng và quảng cáo TVC của diễn viên Việt Anh bên chiếc ghế da cùng câu nói “làm ăn dài dài, không hoà chỉ phát”. Tuy nhiên, sự gia nhập của các đối thủ mới, của kinh tế gia đình đối với các sản phẩm gỗ đã thu hẹp miếng bánh của các doanh nghiệp sản xuất đồ nội thất đại trà như Hoà Phát.

    27/08/2021 • Babuki JSC
    Case study Nhân sự

    Tim Cook đã phát triển đế chế Apple như thế nào trong một thập kỷ làm CEO

    Khi Tim Cook tiếp quản vị trí giám đốc điều hành (CEO) của Apple, đó là một sự chuyển giao vị trí điều hành công…

    25/08/2021 • Babuki JSC
    Mô hình kinh doanh Bán lẻ / Ecommerce Case study

    Dollar Shave Club, Warby Parker,… với các mô hình bán hàng trực tiếp đột phá đã thay đổi cách thức khách hàng mua sản phẩm tiêu dùng

    Nội DungCâu chuyện của Dublin, nhà sáng lập Dollar Shave ClubThay đổi cách thức khách hàng mua sản phẩm tiêu dùngCâu chuyện của Raider, nhà…

    15/08/2021 • Babuki JSC
    Tin tức Mô hình kinh doanh

    Chiến lược bán hàng giúp Dollar Shave Club trở thành startup 1 tỷ USD

    Từ một startup nhỏ bé thành lập vào năm 2011 đến màn hạ cánh an toàn với giá 1 tỷ USD vào năm 2016 khi gia nhập Unilever. Dollar Shave Club (DSC) là một minh chứng sống của bán hàng thông minh.

    15/08/2021 • Babuki JSC
    bool(false)