Đăng bởi Babuki JSC vào Tháng Một 18, 2021

Thị trường sữa, kem, phô mai bao gồm các ngành chế biến sữa tươi thành các sản phẩm như sữa tiêu dùng, bơ, phô mai, sữa chua, sữa đặc, sữa khô (sữa bột) và kem, sử dụng các quy trình như làm lạnh, thanh trùng và đồng nhất hóa.

Quy mô và tăng trưởng thị trường sữa, kem, phô mai

Theo thống kê mới nhất, thị trường sữa, kem, phô mai đã đạt doanh thu vượt quá 100 nghìn tỷ đồng (4,4 tỷ USD), tăng 10% so với năm 2016, với sản phẩm sữa Việt Nam (Vinamilk) chiếm 50% tổng số.

Thị trường sữa, kem, phô mai vào năm 2020 dự kiến sẽ tăng gấp đôi quy mô, đạt 8.2 tỷ USD vì dân số Việt Nam dự kiến sẽ tăng thêm 5 triệu người và thu nhập cá nhân và tiêu thụ sữa dự kiến sẽ tăng ở mức 15% và 7% tỷ lệ tăng trưởng hàng năm, theo báo cáo năm 2016 của EU-Vietnam Business Network (EVBN).

Việt Nam chứng kiến ​​sự tăng trưởng dần dần của tiêu thụ sữa khoảng 12% trong 03 năm qua. Nhìn chung, Việt Nam đã chứng kiến ​​sự tăng trưởng dần dần của tiêu thụ sữa là 12% trong 03 năm qua. Ngành công nghiệp dự kiến ​​sẽ tăng 9% mỗi năm, hoặc 27-28 lít / người / năm vào năm 2020. Có thể thấy rằng trong 03 năm gần đây, nguồn cung sản phẩm sữa từ nguồn trong nước đã tăng liên tục gần 50%, làm cho nó tăng tỷ lệ sản xuất sữa tăng 13%.

Thị trường Sữa, Kem, Phô mai

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), thị trường sữa nói chung đã ở mức bão hòa. Với VNM, việc gia tăng thị phần càng trở nên khó khăn hơn do công ty đã ở vị thế áp đảo ở hầu hết các phân khúc. Do đó, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của VNM nhiều khả năng sẽ ở mức tương đương với ngành sữa.

Phân khúc thị trường

Tổng giá trị sữa uống và sữa bột chiếm hơn 70% tổng thị trường. Hai thành phần quan trọng nhất quyết định sự phát triển của ngành sữa tại Việt Nam là sữa uống (sữa nước) và sữa bột. Năm 2016, uống sữa đạt hơn 1 tỷ lít; trong khi sữa bột đạt 110,8 nghìn tấn.

Thị trường sữa bột tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân hàng năm là 12,7% trong 5 năm qua, nhưng trong năm 2017 tăng trưởng 9,8%.

Phân khúc sữa nước có tốc độ tăng trưởng gộp bình quân năm là 14,6% trong 5 năm qua và tăng trưởng 13% trong năm ngoái.

Thị trường sữa nước có tính cạnh tranh ít hơn so với mảng sữa bột vì các doanh nghiệp trong nước có lợi thế về nguồn cung.

Thị trường sữa chua tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân hàng năm là 13,1% trong 5 năm qua và tăng 16% trong năm ngoái. Áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với mảng sữa chua

Xuất khẩu và Nhập khẩu

Việt Nam đã chi khoảng 850 triệu đô la Mỹ mỗi năm để nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa. New Zealand vẫn là nhà cung cấp sữa lớn nhất cho Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ của nó trong tổng giá trị nhập khẩu đã giảm từ 26% năm 2012 xuống còn 22% vào năm 2016. Giá trị nhập khẩu các sản phẩm từ Mỹ, Pháp, Đức, Hà Lan cũng đang trong xu hướng giảm. Khách hàng Việt Nam ngày càng quan tâm đến các sản phẩm sữa từ Singapore, Thái Lan và Úc.

Top công ty

Thị trường sữa Việt Nam hầu hết bị chi phối bởi 08 người chơi hàng đầu, chiếm 90% thị phần. 08 công ty hàng đầu trong thị trường sữa chiếm 90% tổng thị phần, trong đó Vinamilk chiếm gần 50% với doanh thu thuần hơn 2.000 triệu đô la Mỹ, tiếp theo là Nestle Vietnam (12%) và Nutifood Bình Dương (8%).

1. Sữa bột

Sữa bột chủ yếu là sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Hiện Vinamilk (VNM) dẫn đầu thị trường với thị phần khoảng 27% (mảng sữa bột đóng góp khoảng 26% doanh thu và 28% lợi nhuận gộp cho VNM trong năm 2017); Abbott đứng thứ 2 với 17%; tiếp theo là Friesland Campina với 12% thị phần.

Trong khi thị phần của cả Abbot và Friesland Campania vẫn giữ nguyên hoặc giảm nhẹ trong 3 năm qua, thì Nutifood nổi lên thành một nguy cơ lớn đối với VNM ở phân khúc bình dân.

Thị phần của Nutifood đã tăng từ 10% trong năm 2014 lên khoảng 15% trong năm 2017. Nutifood có sản phẩm đa dạng và có giá thấp hơn 10%-15% so với VNM. Điều này cho thấy Nutifood sẵn sàng chấp nhận biên lợi nhuận thấp để giành lấy thị phần từ đối thủ.

Bên cạnh đó, các hãng sữa quốc tế như Abbott, Friesland Campina, Mead Johnson, Nestle và nhiều hãng sữa nhỏ hơn khác đều có năng lực tốt về marketing và nghiên cứu, phát triển sản phẩm. Do vậy những doanh nghiệp này luôn luôn là nguy cơ cạnh tranh với VNM.

Lợi thế của các hãng sữa quốc tế là sữa bột được nhập khẩu, nên các doanh nghiệp trong nước không có lợi thế về giá so với các doanh nghiệp ngoại. Các nhà máy chủ yếu được tự động hóa nên chi phí nhân công không phải là nhân tố quan trọng.

2. Sữa nước

Vinamilk là doanh nghiệp giữ thị phần số 1 trong mảng này. Mảng sữa nước chiếm khoảng 42% doanh thu và 42% lợi nhuận gộp của công ty trong năm 2017.

Các doanh nghiệp lớn khác trong ngành là Friesland Campina, TH true Milk, Nestle, IDP và Mộc Châu.

Hiện 30% sản lượng sữa nước sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước. Trong đó, khoảng 10% là từ chính các nông trại của công ty.

70% nguyên liệu cho sữa nước được nhập khẩu từ New Zealand, Australia, châu Âu và Mỹ dưới dạng bột sữa (SMP và WMP). Nhờ vậy, các doanh nghiệp sữa của Việt Nam có nông trại có thể tiết kiệm chi phí vận chuyển. Hầu hết các công ty sữa nước ngoài không có nhà máy sữa nước tại Việt Nam và phải nhập khẩu thành phẩm với chi phí vận chuyển đắt đỏ.

3. Sữa chua

Sữa chua đóng góp khoảng 14% doanh thu và 16% lợi nhuận gộp của VNM trong năm 2017. Thị phần sữa chua của VNM đã giảm từ 90% trong năm 2012 xuống 84% trong năm 2017. Doanh nghiệp lớn thứ hai trong mảnh này là Friesland Campina với khoảng 8%-9% thị phần.

Trong khi đó, các đối thủ mới như IDP và TH true Milk đã gia nhập ngành với nhiều đột phá trong sản phẩm. Tập đoàn Kido (KDC) cũng đã tung ra thị trường sản phẩm mới là sữa chua đá.

Với sản phẩm sữa chua uống, phân khúc này tăng trưởng 17% trong năm 2017 với quy mô khoảng 4.850 tỷ đồng, nhỏ hơn so với phân khúc sữa chua ăn với quy mô 7.765 tỷ đồng và c ũng tăng trưởng 16% trong năm ngoái.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), thị trường sữa nói chung đã ở mức bão hòa. Với VNM, việc gia tăng thị phần càng trở nên khó khăn hơnh do công ty đã ở vị thế áp đảo ở hầu hết các phân khúc. Do đó, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của VNM nhiều khả năng sẽ ở mức tương đương với ngành sữa.

Xem thêm các bài viết về phân tích thị trường Việt Nam:

Hãy để lại thông tin liên hệ để Babuki có thể gửi đến bạn các bài viết hay hoặc hỗ trợ tư vấn về chiến lược và quản trị.

Cũng đừng ngần ngại để lại bình luận dưới bài viết hoặc tham gia Group Iconsulting – Chiến lược & Khởi nghiệp để cùng trao đổi với chúng tôi và những độc giả quan tâm khác!

Đăng ký nhận bản tin


    Facebook Group

    iConsulting - Chiến lược & Khởi nghiệp

    Bài viết mới

    Growth Hacking (P2): Các chiến lược startup nên dùng

    Tháng Sáu 11, 2021 • Kathy Trần

    Mua nhượng quyền: 5 Ưu điểm và 5 Hạn chế

    Tháng Sáu 8, 2021 • Kathy Trần

    7 xu hướng công nghệ ngành FnB

    Tháng Sáu 2, 2021 • Võ Châu

    Các bài bài viết liên quan

    FMCG / Hàng tiêu dùng

    Thị trường Sữa, Kem, Phô mai

    Thị trường sữa, kem, phô mai vào năm 2020 dự kiến sẽ tăng gấp đôi quy mô, đạt 8.2 tỷ USD vì dân số Việt Nam dự kiến sẽ tăng thêm 5 triệu người và thu nhập cá nhân và tiêu thụ sữa dự kiến sẽ tăng ở mức 15% và 7% tỷ lệ tăng trưởng hàng năm, theo báo cáo năm 2016 của EU-Vietnam Business Network (EVBN).

    Tháng Tư 13, 2021 • Babuki JSC
    FMCG / Hàng tiêu dùng

    Thị trường thức uống Việt Nam

    Thị trường thức uống Việt Nam ngày càng được đa dạng hóa và được dự báo sẽ tăng trưởng tốt trong thời gian tới. Nội…

    Tháng Một 18, 2021 • Babuki JSC
    FMCG / Hàng tiêu dùng

    Thị trường Thực phẩm tươi sống Việt Nam

    Thị trường thực phẩm tươi sống Việt Nam có quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng khá ổn đinh. Đây cũng là một thị…

    Tháng Một 18, 2021 • Babuki JSC
    FMCG / Hàng tiêu dùng

    Tổng quan thị trường cafe Việt Nam

    Thị trường cafe Việt Nam là một thị trường có quy mô và tiềm năng lớn để phát triển. Hãy cùng Babuki tìm hiểu thêm…

    Tháng Một 17, 2021 • Babuki JSC
    FMCG / Hàng tiêu dùng

    Thị trường sữa nước Việt Nam

    Nhu cầu cuộc sống tăng cao, yếu tố sức khỏe ngày được chú trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của các sản phẩm dinh dưỡng,…

    Tháng Một 17, 2021 • Babuki JSC